Xe Ôm ở Sài Gòn
Sài Gòn là một thực thể chuyển động không ngừng.
Trước khi xe máy trở nên phổ biến, "lãnh địa" của giao thông công cộng Sài Gòn thuộc về xích lô và xe lôi. Cho đến thập niên 90, khi luồng gió "Đổi mới" bắt đầu thổi mạnh, một hình ảnh khác mới từ từ lan rộng.
Sự xuất hiện của xe ôm không phải là một cuộc cách mạng được định sẵn, mà là một sự thay thế tự nhiên. Khi thành phố mở rộng, những quãng đường trở nên dài hơn, con người vội vã hơn, xích lô dần trở nên quá tải và chậm chạp. Những người đàn ông từng cầm lái xích lô, hay những người lao động không tìm thấy chỗ đứng trong thời kỳ mới bắt đầu nhìn sang chiếc xe máy. Họ nhận ra rằng, chỉ cần một chiếc xe hai bánh, họ có thể len lỏi vào từng con hẻm nhỏ nhất, đến đích nhanh nhất.
Nghề xe ôm phổ biến từ đó, một sự thích nghi đầy nhạy bén của người dân Sài Gòn trước thời cuộc.
Tôi nhớ những năm 1992-1994, nghe người lớn kể một chiếc xe máy như Dream Thái hay Cub 81 "kim vàng giọt lệ" là cả một gia tài khổng lồ. Một chiếc xe máy là mục tiêu, đích đến hay cả giấc mơ của nhiều người và gia đình.
Nhưng khi kinh tài thế thái đổi thay, họ chợt nhận ra chiếc xe máy từ chỗ là thứ để "trưng diện", nâng niu lại đang dần mất giá. Cách duy nhất để giữ được giá trị là biến chúng trở thành công cụ mưu sinh giữa chốn phồn hoa như Sài thành.
Người chạy xe ôm, vốn có thể từng là một công chức, một giáo viên hay một công nhân lỡ nhịp thế thời, đã nén lại lòng tự trọng để ra đứng ở ngã tư, bắt đầu những chuyến hành trình chở khách đầu tiên. Từ đó, chiếc xe không chỉ chở người, nó chở cả tương lai của một gia đình, chở tiền học phí của con cái và những bữa cơm của cha mẹ già.
Cái tên "xe ôm" ra đời từ chính tư thế của người ngồi sau. Vì những con đường ổ gà, những khúc cua gấp, những cái phuộc xe xốc nảy hay cái yên xe kiểu cũ cứ trôi tuột người ngồi, nên khách phải bám chặt lấy vai hoặc eo người lái để giữ thăng bằng. Cái "ôm" ấy, ban đầu là để an toàn, nhưng dần dần lại giúp xóa đi khoảng cách giữa những người lạ.
Người Sài Gòn đi xe ôm không chỉ để đến nơi, mà còn để nghe kể chuyện! Cũng như những chuyến xích lô thời trước, bác tài xe ôm cũng phải trở thành một tấm "bản đồ sống", hay là "tổng đài 1080" cho nhiều thứ chẳng liên quan chi đến chuyện đường xá. Họ biết quán cháo trắng nào ngon nhất lúc 2 giờ sáng, biết đoạn đường nào đang ngập nước, và biết cả những câu chuyện "trong nhà ngoài ngõ" ở khu phố nọ kia.
Nghề xe ôm lúc này đã trở thành một phần của văn hóa đô thị, một sự kết nối bình dị giữa người với người.
Đến khoảng 2014, sự xuất hiện của các ứng dụng gọi xe như Uber, Grab đã tạo nên một cơn địa chấn. Thế giới gọi đó là "ride hailing" hay "sharing economy". Nhưng ở Việt Nam, có một thuật ngữ Việt hóa rất hay, là "xe ôm công nghệ".
Có lẽ không có từ thuần Việt nào miêu tả rõ hơn về công việc chở khách đó như hai chữ "xe ôm". Dù bạn đặt xe qua ứng dụng triệu đô, dù bạn thanh toán bằng ví điện tử, thì bản chất của nó vẫn là một người chở một người trên chiếc xe hai bánh. Sự Việt hóa này không chỉ giúp người dân dễ hình dung, mà còn cho thấy nghề "xe ôm" đã bén rễ sâu đến mức nào trong tâm thức người Việt.
Nói hào nhoáng là vậy, nhưng từ đây, một ranh giới vô hình nhưng khắc nghiệt bắt đầu được vạch ra, mà phần thiệt luôn dành cho những người không kịp chuyển mình theo thời thế.
Khi đạp xe rong ruổi dọc đại lộ Võ Văn Kiệt, nhìn hình ảnh những người đàn ông tóc đã bạc, da đã sạm vì nắng gió, lận đận tìm khách giữa một Sài Gòn đã quá khác xưa, tôi không khỏi chạnh lòng. Có phải Sài Gòn đã quá vô tình không?
Có lẽ quy luật của sự phát triển vốn dĩ nghiệt ngã là thế. Như cách xe ôm đã thay dần xích lô, họ giờ đây đang trở thành những "người khách lạ" ngay trên chính mảnh đất mình từng gắn bó.
Chỉ còn trông chờ mưu sinh vào chút tàn dư của thói quen cũ, khi những khách quen không biết dùng app, những người già đi chợ gần nhà, hay những người khách vãng lai thích trả giá, mặc cả.
Nghề xe ôm ở Sài Gòn, sau hơn ba thập kỷ, có lẽ đã hoàn thành sứ mệnh của mình. Nó đã giúp hàng triệu người dân di chuyển nhanh hơn, giúp hàng vạn gia đình vượt qua những năm tháng kinh tế ngặt nghèo nhất.
Xe ôm, sẽ mãi ở đó như một phần của lịch sử, chứng kiến một thời kỳ Sài Gòn chuyển mình đầy nghị lực.
Có lẽ tôi, cũng như bao người Sài Gòn khác, có chạnh lòng vì ai đó bị bỏ lại phía sau, vì lỡ ghi nhớ hình dáng của thành phố ở một thời khắc của quá khứ...
Lãn Tiểu Sinh
Sài Gòn, 21/01/2026



Nhận xét
Đăng nhận xét